Động tác bấm phím cơ bản bao gồm 3 thành phần chính: nhấn xuống, giữ và nâng lên. Điều này nghe có vẻ như một điều vô cùng đơn giản dễ học, nhưng không phải bởi vì mỗi thành phần đều có phương pháp và mục tiêu riêng, và người chơi piano phải biết cách sử dụng để thao tác trục gõ, búa kiểm tra, và dây cáp chân búa.

Động tác nhấn xuống là cái tạo ra tiếng piano; trong chuyển động đúng, đó phải là một chuyển động tăng tốc đơn, nhưng có sự kiểm soát âm lượng. Chọn đúng lúc thời gian của động tác nhấn xuống này phải cực kì chính xác. Lời khuyên “hãy chơi sâu vào phím đàn” có nghĩa động tác nhấn xuống không được chậm dần; nó phải tăng tốc suốt quãng đến đáy để sự kiểm soát trên búa đàn không bao giờ bị mất. Luyện tập động tác này bằng cách bắt đầu nhấn xuống một cách chầm chậm thay vì tăng tốc ở đoạn cuối.

Hệ thống búa đàn

Hệ thống búa đàn

“Bộ cơ tăng tốc” trong những cây đàn piano Steinway hiệu quả vì nó thêm gia tốc cho chuyển động búa đàn bằng cách sử dụng một trụ tròn ở dưới trung tâm ống lót phím. Điều này khiến điểm trụ chuyển động về trước với động tác nhấn phím cho nên làm ngắn lại phần trước phím và làm dài hơn phần sau phím và khiến cái tời tăng tốc cho động tác nhấn phím liên tiếp. Điều này minh họa tầm quan trọng mà những nhà thiết kế piano lưu ý về tăng tốc động tác nhấn phím để tạo ra âm hay. Hiệu quả của “bộ cơ tăng tốc” vẫn còn gây tranh luận bởi vì có những chiếc piano tuyệt vời không hề trang bị tính năng này – sự tăng tốc khi đó được hoàn toàn được điều khiển bởi người chơi piano. Rõ ràng rằng, đối với người chơi piano thì điều khiển được sự tăng tốc này quan trọng hơn là dựa vào chiếc piano. Dù sao, nhân tố này có thể giải thích độ ưa chuộng áp đảo của những nghệ sĩ piano thính phòng cho Steinways. Thêm tính năng tăng tốc cho piano điện tử thì không đáng kể, nhưng vô nghĩa vì piano điện tử không có hiệu ứng dây cáp chân búa.

Ống lót phím piano.

Ống lót phím piano.

Những cơ gấp nhanh phải được phát triển cho động tác nhấn xuống, cũng như là thư giãn nhanh chóng sau khi nhấn phím.

Thành phần giữ sẽ giữ búa đàn đứng yên bằng cách sử dụng búa kiểm tra để điều khiển chính xác trường độ của nốt nhạc, nghĩa là người chơi piano phải giữ một lực đi xuống trong lúc giữ. Không có động tác giữ, búa có thể lắc lư xung quanh và tạo ra vấn đề với những nốt lặp đi lặp lại, láy rền, v.v… Cho nên động tác giữ rất quan trọng trong luyến láy. Những người mới tập sẽ gặp khó khăn với việc chuyển đổi nhanh từ động tác nhấn xuống sang động tác giữ. Đừng nhấn xuống phím đàn trong động tác giữ để cố gắng “nhấn sâu vào trong phím đàn”, bởi vì điều này sẽ dẫn đến căng thẳng, đau đớn, và thậm chí chấn thương. Mặc dù bạn có thể không nhấn chắc xuống khi mới tập, một học viên có thể trở nên nhấn xuống với một lực kinh khủng sau nhiều năm có thói quen xấu này. Trọng lực đã đủ để giữ phím đàn xuống và giữ búa đứng yên với búa kiểm tra. Độ dài của động tác giữ là cái kiểm soát âm sắc và biểu cảm; vì vậy, động tác giữ là một phần quan trọng trong việc chơi nhạc một cách nhạc tính, và có thể là thành phần khó nhất để điều khiển.

Thành phần nâng lên làm cho cái chặn tiếng rơi lên dây đàn và làm tắt tiếng đàn. Cùng với sự giữ, sự nâng lên quyết định trường độ nốt nhạc. Sự nâng lên phải nhanh để điều khiển chính xác trường độ nốt nhạc. Nếu cái chặn tiếng không được đưa trở lại nhanh chóng, nó sẽ tạo ra những âm thanh rầm rĩ với dây đàn rung. Vì vậy, người chơi piano phỉa phát triển những cơ duỗi nhanh. Nhất là khi chơi nhanh, nhiều học viên hoàn toàn quên động tác nâng lên, dẫn đến một bản chơi luộm thuộm.

Trong kiểu chơi bình thường, sự nâng lên của nốt trước xảy ra đồng thời với sự nhấn xuống của nốt tiếp theo. Nếu bạn chưa từng tập luyện những thành phần này, hãy bắt đầu tập luyện với ngón 1-5, C đến G, gam C trưởng, và áp dụng từng thành phần cho mỗi ngón tay. Để tập luyện những cơ duỗi, hãy phóng đại động tác nâng nhanh; tập luyện nâng lên nhanh chóng với thư giãn liền ngay sau dó, không phải là sự nâng lên cao và giữ bằng nhau.

Hệ thống cái chặn tiếng

Hệ thống cái chặn tiếng

Cách luyện tập nhấn phím cơ bản này quan trọng hơn rất nhiều so với những gì hầu hết học viên nhận ra. Với một ít luyện tập tối thiểu, nó sẽ nhanh chóng trở thành một phần tự động trong cách bạn chơi tất cả mọi thứ, bởi vì bạn sẽ nghe được sự khác biệt trong tiếng nhạc. Động tác nhấn phím cơ bản là một minh chứng khác cho cách tiếp cận chầm chậm từ từ đến phong trào piano được sử dụng bởi nhiều trường phái piano chẳng hạn như trường phái trọng lượng tay, Alexander, và Feldenkrais.

Hãy giữ tất cả những ngón tay đang-không-chơi trên phím đàn, một cách nhẹ nhàng. Khi cố gắng tăng tốc độ của động tác nhấn xuống và nâng lên, bắt đầu tại khoảng mỗi giây một nốt, căng thẳng có thể bắt đầu tích tụ; hãy tập luyện cho tới khi sự căng thẳng có thể bị loại bỏ. Rồi dần dần tăng tốc đến tốc độ mà bạn vẫn có thể thoải mái luyện tập những phần trên. Rõ ràng, đây không phải là cách bạn chơi piano; đây chỉ là một phương pháp luyện tập. Điều thực sự kì diệu ở đây là nếu bạn siêng năng tập luyện, cách nhấn phím cơ bản sẽ tự động tích hợp vào cách bạn chơi đàn khi chơi ở tốc độ thường. Không cần phải lo lắng sẽ mất những chuyển động này bởi vì sự khác biệt rất rõ: âm nhạc bạn tạo ra sẽ dở đi nếu các động tác không được thực hiện đúng.

Bây giờ hãy làm điều tương tự với bất kỳ bản nhạc chậm nào, chẳng hạn như phần 1 bản Moonlight Sonata của Beethoven, HS. Nếu bạn chưa từng làm điều này trước đó, HT lúc ban đầu sẽ gượng gạo vì có quá nhiều thành phần ở cả hai tay phải được phối hợp. Tuy nhiên, với luyện tập, âm nhạc sẽ phát ra tốt hơn, với nhiều kiểm soát hơn về diễn cảm và tiếng nhạc. Màn trình diễn của bạn sẽ vững chắc ngày này qua ngày khác, và kỹ thuật sẽ tiến bộ nhanh hơn. Thiếu đi kỹ năng nhấn phím cơ bản tốt, những piano khác, hay piano không ở trong tình trạng tốt có thể trở nên không thể chơi được.

Trong trường phái dạy cũ, học viên được dạy để thực hành đúng bằng cách cố gắng để đạt bấm phím và âm tốt, mà không bận tâm về đòn bẩy hay búa kiểm tra. Học viên được giáo dục tốt hơn thời buổi này phải giải quyết thực tế của những gì đang diễn ra trong cây piano bởi vì điều đó cho ra hướng dẫn chính xác hơn về cách thực hành. Ví dụ, ẩn ý của thay đổi nhấn phím cơ bản cho piano điện tử bởi vì chúng không có đòn bẩy, búa kiểm tra, hay búa, là một lý do tại sao người chơi piano cấp cao thích piano acoutisc hơn. Dù vậy, động tác nhấn phím cơ bản vẫn phải được luyện tập với piano điện bởi vì đó là một phần của kỹ thuật tốt.

Tập chơi Legato trong gam C trưởng như sau.

Tập chơi Legato trong gam C trưởng như sau.

Legato là chơi liền tiếng. Cách chơi này đạt được bằng cách kết nối những nốt nhạc liên tiếp – đừng nâng nốt đầu lên cho tới khi nốt tiếp theo được chơi. Fraser khuyên có đoạn gối lên nhau đáng kể giữa hai nốt. Những khoảnh khắc đầu tiên của một nốt chứa nhiều “tiếng ồn” khác cho nên những nốt gối chồng lên nhau không dễ nhận biết đến thế. Vì legato là một thói quen phải được xây gắn vào cách chơi đàn của bạn, hãy thử nghiệm những cách gối lên có độ chồng khác nhau để xem rằng độ gối lên bao nhiêu sẽ cho bạn legato tốt nhất. Nếu bạn đã phát triển thói quen riêng rồi, cách chơi legato của bạn có thể khó mà thay đổi; hãy chuẩn bị tập luyện legato một khoảng thời gian dài. Sau đó thì hãy luyện tập cho tới khi chuyển động tối ưu đó trở thành một thói quen mới. Chopin cho rằng legato là kĩ thuật quan trọng nhất để phát triển với những người mới tập. Âm nhạc của ông đòi hỏi những kiểu legato và staccato đặc biệt (Ballade Op. 23), bạn nên nghe những bản thu âm và luyện tập chúng sử dụng bản Ballade này.

Nhìn vậy mà không phải vậy. Staccato phức tạp hơn là chỉ chơi nốt ngắn.

Nhìn vậy mà không phải vậy. Staccato phức tạp hơn là chỉ chơi nốt ngắn.

Staccato: Thật đáng kinh ngạc, phần lớn các cuốn sách về học piano đều bàn tới staccato, nhưng chưa bao giờ định nghĩa staccato là gì! Trong staccato, búa đàn nảy khỏi dây và cái chặn tiếng được đưa trở lại ngay lập tức để tạo ra một âm thanh ngắn gọn, không vang. Vì vậy, thành phần “giữ” của động tác nhấn phím cơ bản bị thiếu và bàn tay được giữ trên phím đàn sau khi chơi nốt, thay vì dựa trên phím. Có hai kí hiệu cho kiểu chơi này: thường (một dấu chấm bên trên hoặc dưới nốt nhạc) và staccatissimo (hình tam giác). Trong cả hai ký hiệu, thì giá không được thả ra. Ở staccato thường, phím đàn được nhấn sâu xuống một nửa. Ở staccatissimo, phím đàn được nhấn xuống ít hơn một nửa; theo cách này, cái chặn tiếng được trở lại dây nhanh hơn, đãn đến trường độ nốt ngắn hơn. Các ngón tay di chuyển lên xuống nhanh liên tục. Vì búa kiểm tra không được gài vào, búa đàn có thể “nảy xung quanh”, khiến cho việc mổ ngón staccato phức tạp ở một số tốc độ nhất định. Cho nên nếu bạn gặp vấn đề với việc mổ ngón staccato nhanh liên tục, đừng tự trách mình ngay – đó có thể là do tần số sai do những chiếc búa đàn gõ sai. Bằng cách thay đổi tốc độ, độ sâu nhấn phím đàn xuống, .v.v… bạn sẽ có thể loại trừ được vấn đề.

Ở staccato thường, trọng lực nhanh chóng trả lại cái chặn tiếng lên trên dây đàn (đàn đại dương cầm; còn đàn tủ đúng thì sử dụng lò xo). Ở staccatissimo, cái chặn tiếng nảy nảy khỏi thanh dừng cái chặn tiếng, để nó quay lại còn nhanh hơn. Ở điểm chạm dây, dây cáp chân búa có thể bị âm, khiến khối lượng hiệu quả của búa đàn nhẹ hơn; như vậy nhiều âm khác nhau có thể được tạo ra với staccato. Vì thế, chuyển động của búa đàn, búa kiểm tra, giá đỡ và cái chặn tiếng đều được thay đổi trong staccato. Rõ ràng, để thực hiện kĩ thuật staccato tốt, hiểu cách piano hoạt động sẽ hữu ích. Đừng tự trách mình khi điều gì đó không ngờ xảy ra vì staccato quá phức tạp để hiểu; lựa chọn duy nhất của bạn là thử nhiều thứ khác nhau để xem cái nào hiệu quả. Staccato không chỉ là một nốt rất ngắn.

Staccato có thể được phân loại thành ba kiểu dựa trên cách chơi: (i) staccato ngón tay, (ii) staccato cổ tay, và (iii) staccato cánh tay bao gồm cả chuyển động lên-xuống và sự xoay tay. Khi bạn tiến dần từ (i) đến (ii), nhiều trọng lượng hơn sẽ được thêm vào đằng sau ngón tay; cho nên, (i) cho ra staccato nhẹ nhất, nhanh nhất và hữu ích để chơi các nốt nhẹ, nhanh, và (iii) mang đến cảm giác nặng nhất và hữu ích cho các đoạn to tiếng và hợp âm với nhiều nốt, nhưng cũng là kiểu chậm nhất. (ii) thì ở giữa. Trong thực tế, phần lớn chúng ta sẽ kết hợp cả ba kiểu trên với nhau. Do cổ tay và cánh tay chậm hơn, nên biên độ của chúng cần phải giảm xuống ương ứng để chơi staccato nhanh hơn. Một vài giáo viên không đồng ý việc sử dụng staccato cổ tay, họ ưa chuộng dùng phần lớn stacatto ngón tay cho tốc độ hoặc staccato cánh tay cho sức mạnh; tuy nhiên, sẽ tốt hơn khi có sự lựa chọn (hay sự kết hợp) của cả ba kiểu. Ví dụ, bạn có thể giảm cảm giác mỏi bằng cách chuyển từ kiểu này sang kiểu khác, mặc dù phương pháp giảm cảm giác mỏi thông thường là thay đổi ngón tay. Khi tập staccato, bạn hãy luyện cả ba kiểu trên (ngón tay, cổ tay, cánh tay) trước khi quyết định mình sẽ dùng kiểu nào, hoặc sẽ kết hợp chúng như thế nào.

Bởi vì trọng lượng cánh tay không thể dùng cho staccato, thứ liên quan tốt nhất ở đây là một cơ thể vững chắc. Tốc độ mổ ngón staccato được điều khiển bởi số chuyển động lên-xuống: biên độ chuyển động càng nhỏ, tần suất lặp lại càng nhanh. Sự thư giãn rất quan trọng để tránh việc sử dụng quá độ những cơ đối kháng để giữ cánh tay giữa không trung, hoặc để chơi nhanh.

Bạn có thắc mắc...